Trong chuyến đi thực địa Cù Lao Chàm (TP.Hội An, Quảng
Nam) cùng các thành viên ủy ban IUCN (về các khu bảo tồn biển và quản lý
hệ sinh thái), tôi đã bị mê hoặc bởi nhiều thứ ở đấy. Tất cả đang
chuyển biến tích cực, giữa trùng khơi, con người và thiên nhiên “bám”
vào nhau, cùng phát triển kinh tế.
Người dân thôn Bãi Hương chuẩn bị dẫn khách về nhà theo dịch vụ homestay.
Một Cù Lao xanh...
Hơn 30 phút ngồi trên ca nô từ TP.Hội An
ra đến Cù Lao Chàm. Cảm giác chung cho mọi người trong đoàn là nhẹ
nhõm, như trút hết những ồn ào, náo nhiệt, bụi bặm nơi phố phường đất
liền. Cù Lao Chàm hay xã đảo Tân Hiệp với 2.700 dân đang sinh sống, có 8
hòn đảo nhô lên trên mặt nước biển theo hình cánh cung, trở thành một
trong 15 khu bảo tồn biển của VN vào năm 2007. Và tháng 5.2009, với hệ
động thực vật phong phú và những di tích lịch sử hàng trăm năm trước, Cù
Lao Chàm được UNESCO công nhận là Khu Dự trữ sinh quyển thế giới.
Giáo sư Nguyễn Hoàng Trí -người đã từng
ăn rau đắng, tắm sóng biển nơi này để góp phần đưa nó trở thành một
trong những khu bảo tồn của VN- cũng phải thốt lên bất ngờ khi ông trở
lại chứng kiến một Cù Lao Chàm mới. Tất cả bến bãi, thôn làng chúng tôi
đặt chân đến đều trong lành kỳ lạ. Điều lý thú đầu tiên: Cù Lao Chàm
“nói không” với túi nilon. Ý thức không sử dụng túi nilon đã trở thành
nếp trong suy nghĩ của người dân. Ở đây, “hiếm” túi nilon đến nỗi ông
chủ thuyền thúng phải chạy quanh khắp xóm mới tìm được 2 cái cho tôi và
anh bạn nhà báo bọc máy ảnh khi lội biển ngắm san hô.
| Bảo vệ môi trường đã thành nếp trong ý thức của người dân đảo. |
Biển ở đây rất xanh, ngồi trên chiếc
thuyền thúng có thể nhìn rõ những rặng san hô quanh đảo. Anh Trần Chờ
(46 tuổi), người dân thôn Bãi Hương kể cho chúng tôi: “Ở đây tôm cá
nhiều là nhờ những rặng san hô này”. Rồi anh dẫn chúng tôi cập vào bãi
Tra bắt ốc vú nàng, một loại đặc sản của đảo. Đứng từ bãi Tra nhìn lên
chóp núi là chỗ người dân thường chôn cá voi bị chết.
Anh kể hôm trước có một thanh niên trong
làng khi đi ngang thấy một con kỳ đà to cỡ mấy cân, con kỳ đà này ngửi
được mùi thối của cá voi chết chôn nên đào ăn thịt. Trên rừng này cũng
có nhiều khỉ, cứ hết mùa hoa quả là chúng lại tìm về nhà dân lục lọi. Có
hôm, đi đánh cá về anh Chờ thấy mấy con vào nhà mình dỡ nồi cơm bốc ăn
ngon lành. Thế là người dân trồng thêm nhiều chuối trên núi để thêm thức
ăn cho chúng.
Một ngày ở đảo, chúng tôi được khám phá
rất nhiều điều lý thú. Từ sáng sớm đoàn đã dậy đi ngắm đảo chim Yến,
cùng người dân ra khơi đánh cá, tham quan những bãi biển đẹp của đảo.
Những bãi biển trên Cù Lao Chàm còn hoang sơ và phần lớn do người dân tự
quản. Duy có một bãi đã được công ty du lịch nước ngoài thuê nhưng đến
nay vẫn còn bỏ hoang.
Trước khi chúng tôi đến một tuần, tại
bãi Xếp, một ngư dân đã phát hiện một chú rùa biển khoảng 40kg. Loài rùa
này khoảng 20 năm trước ở đây có rất nhiều. Kể vậy để thấy rằng, ở Cù
Lao Chàm từ trên rừng xuống dưới biển là môi trường rất tốt cho nhiều
loại động thực vật sinh sôi. Đó cũng là lý do để nó trở thành khu dự trữ
sinh quyển của thế giới.
Nhuận cá
Cù lao sẽ không xanh nếu như bị con
người tận hái và không được quản lý chặt chẽ như hiện nay. Nhiều người
đánh giá rằng ở đây không những người dân ý thức tốt về bảo vệ môi
trường mà quản lý cũng rất tốt; ấy là thể hiện ở những hướng đi, quy
hoạch cho phát triển bền vững Cù Lao Chàm.
Ông Chu Mạnh Trinh, phó trưởng phòng
nghiệp vụ Ban quản lý Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm cho biết: “Ngày đầu,
người dân không biết làm bảo tồn biển là làm cái gì. Rồi dần dần thực tế
mang lại kiến thức, và trở thành ý thức”. Từ năm 2005, người dân đã
thực hiện quy chế bảo vệ những vùng cá sinh sôi nảy nở, đặc biệt ở hệ
sinh thái san hô và bãi đá ngầm. Những khu này hạn chế đánh giã cào,
không cho các loại lưới nhỏ, không cho ánh sáng quá mức... Đến nay cả
cộng đồng đã vào nề nếp trong đánh bắt hải sản.
Nhưng cũng từ đó, sản lượng đánh bắt của
người dân bị giảm mạnh theo từng năm. Người làm công tác quản lý lại
phải vừa vận động vừa tìm sinh kế mới cho người dân. Trong hơn 500 hộ
sinh sống ở Cù Lao Chàm thì có đến 220 hộ nằm trong vùng lõi bị ảnh
hưởng. Do đó, các hộ này được hỗ trợ sinh kế mới như tham gia mô hình
homestay phục vụ khách du lịch.
Trong gia đình, thay vì cả nhà tập
trung vào khai thác hải sản, nay chỉ các ông chồng gom nhóm đi đánh bắt,
cánh phụ nữ ngoài việc nhà thì tham gia phục vụ nấu nướng, hướng dẫn
khách du lịch. Họ vừa là đầu bếp vừa là ca sĩ không chuyên mỗi lần tiếp
khách đoàn. Hiện, Cù Lao Chàm có 30 em đang theo học tại trường trung
cấp du lịch Hoa Sữa ở Hà Nội. Những em này sau khi học xong sẽ trở về
phục vụ du lịch ngay tại quê nhà.
Con số thống kê cho thấy, năm 2003 mới
có 5.000 khách đến tham quan Cù Lao Chàm thì đến cuối năm 2011 đã lên
tới 79.000 khách. Du lịch sinh thái đang là sinh kế mới đưa kinh tế
người dân trên đảo đi lên, và nói như ông Trinh, con cá ở đây đang có
giá trị cao dần, mỗi con cá mang trên mình nhiều giá trị thặng dư hơn,
đưa lại lợi nhuận cao hơn.
Nhớ lại lúc trước, ông Trinh kể: “Lúc ra
quy chế cấm đánh bắt trong khu vực bảo tồn, người dân phản ứng dữ lắm,
họ bảo “bảo tồn” làm mất nồi cơm của họ, thậm chí kiện vào Hội An. Nhưng
rồi qua từng năm, cá tôm từ chỗ sụt giảm thì nay tăng lên nhờ được bảo
vệ môi trường sinh sống, hạn chế đánh bắt. Và người dân đã dần nhận thấy
hiệu quả của việc làm”.
| Cù Lao Chàm. Ảnh: L.Đ.Dũng |
Cái lõi của du lịch ở Cù Lao Chàm là
sinh thái biển. Công sức của người dân cũng như những người làm công tác
bảo vệ nơi đây đã khiến cho hòn đảo này vẫn giữ được vẻ hoang sơ của
nó. Giáo sư Nguyễn Đức Trí đánh giá: “Những kiến thức và ý thức bảo vệ
môi trường ở đây, từ cán bộ cho đến người dân đều tự nắm được trên cơ sở
khoa học chứ không hề là một bản báo cáo đẹp”.
Quả vậy, bây giờ cái mâu thuẫn giữa
người dân và “anh bảo tồn” như ông Trinh nói đã không còn nữa. Và mâu
thuẫn giữa những người được hỗ trợ sinh kế mới với những người chưa tham
gia cũng không còn vì họ đã hiểu được rằng phải có người làm du lịch,
phải có người hoạt động đánh bắt thì mới cân bằng được đời sống chung
cho cả cộng đồng. Bây giờ, cái mâu thuẫn lớn nhất là ý thức bảo vệ biển
của những người trong khu vực và những người trên bờ.
“Chỉ một mình Cù Lao Chàm sạch và bền
vững thôi thì không ổn!”, ông Trinh nhấn mạnh. Thực tế cho thấy, ý thức
bảo vệ của người dân đảo tốt nhưng người dân ở ven bờ không hề có ý thức
thì cũng thành công cốc. Một người dân kể: “Những vùng nào được đánh
bắt, những vùng nào hạn chế đánh bắt, mùa nào cấm đánh tôm hùm, loại nào
đánh bắt vừa... chúng tôi đều nắm và tuân thủ. Nhưng rồi những người ở
trong bờ vẫn ra đánh trộm vô tư, nhìn mà xót lắm”.
Trước đây, những rặng san hô quanh đảo
đã bị khai thác tan hoang do người dân ở đất liền ra thu gom về đốt làm
vôi. Đến nay, nhiều chỗ vẫn chưa phục hồi nguyên trạng. Rồi ô nhiễm môi
trường nước từ các hoạt động kinh tế trong đất liền cũng ảnh hưởng không
nhỏ đến việc bảo tồn biển. “Chúng tôi đang có định hướng kết nối với
các địa phương trong bờ, triển khai và nhân rộng các hoạt động bảo tồn
biển, có như vậy mới tạo được sự bền vững cho hệ sinh thái biển Cù Lao
Chàm nói riêng và các vùng biển nói chung”, bà Trần Thị Hồng Thúy, giám
đốc khu bảo tồn cho biết.
Hiện tại, TP.Hội An đang triển khai thí
điểm mô hình nói không với túi nilon ở 2 phường. Đây là một trong những
bước khởi đầu trong đề án liên kết. Hi vọng rằng, với sự quan tâm của
các tổ chức, hệ thống chính quyền, sẽ dần có nhiều môi trường trong sạch
hơn, không chỉ là vùng biển đảo mà ngay cả trên bờ.
0 nhận xét:
Đăng nhận xét